Tình huống giả định (minh họa): Bà Thu Hằng vừa mất người cha. Gia đình dự định làm thủ tục nhận di sản là một thửa đất và một khoản tiền gửi, nhưng chưa thống nhất cần giấy tờ gì, ai được hưởng và bắt đầu từ đâu. Tên người và mọi chi tiết đều không có thật, chỉ dùng để minh họa cách rà soát giấy tờ.

Trước tiên, hãy kiểm tra những gì
Đầu tiên, chuẩn bị giấy tờ chứng minh người để lại di sản đã mất: đây là giấy tờ nền của hồ sơ. Tiếp theo, kiểm tra người mất có di chúc hay không: nếu có, cần tìm bản di chúc và ghi nhận ai đang giữ; nếu không, hồ sơ đi theo hướng thừa kế theo pháp luật và cần giấy tờ chứng minh quan hệ với từng người hưởng.
Thứ ba, lập danh sách người có thể thuộc diện hưởng theo từng hàng thừa kế, kèm giấy tờ quan hệ, và đối chiếu hàng trước còn ai đủ điều kiện hay không. Thứ tư, tập hợp giấy tờ về tài sản: với đất hoặc tài sản phải đăng ký, cần giấy tờ về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu của người để lại di sản. Cuối cùng, ghi nhận giấy tờ còn thiếu hoặc mâu thuẫn để hỏi tổ chức hành nghề công chứng trước khi nộp.
Quy định đã được đối chiếu nói gì
Theo Điều 609 Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13, cá nhân có quyền lập di chúc, để lại tài sản cho người thừa kế theo pháp luật, và hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Theo Điều 624, di chúc là thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản cho người khác sau khi mình chết.
Theo Điều 59 Luật Công chứng số 46/2024/QH15, người thừa kế theo pháp luật hoặc theo di chúc có quyền yêu cầu công chứng văn bản phân chia di sản, và hồ sơ phải có thêm: giấy chứng tử hoặc giấy tờ hợp pháp khác chứng minh người để lại di sản đã chết; bản di chúc nếu thừa kế theo di chúc, hoặc giấy tờ chứng minh quan hệ với người được hưởng nếu thừa kế theo pháp luật (cả với người hưởng không phụ thuộc nội dung di chúc); và giấy tờ về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nếu di sản phải đăng ký.
Về người được hưởng, Điều 649 xác định thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự do pháp luật quy định. Theo Điều 651, có ba hàng theo thứ tự: hàng thứ nhất gồm vợ, chồng, cha mẹ đẻ và nuôi, con đẻ và nuôi; hàng thứ hai gồm ông, bà nội và ngoại, anh, chị, em ruột và cháu ruột theo quan hệ ông bà; hàng thứ ba gồm cụ nội, cụ ngoại, bác, chú, cậu, cô, dì ruột và cháu, chắt ruột tương ứng. Người cùng hàng hưởng phần bằng nhau; hàng sau chỉ hưởng khi hàng trước không còn ai đủ điều kiện. Theo Điều 650, thừa kế theo pháp luật chỉ áp dụng khi luật định, như không có di chúc, di chúc không hợp pháp, người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc cùng thời điểm, người được chỉ định không có quyền hưởng hoặc từ chối, hoặc phần di sản không được định đoạt.
Cũng theo Điều 59, tổ chức hành nghề công chứng phải niêm yết việc thụ lý và chỉ công chứng sau khi niêm yết kết thúc mà không có khiếu nại, tố cáo; văn bản phân chia đã công chứng là căn cứ để đăng ký chuyển quyền; khoản 5 nêu thủ tục cũng áp dụng khi chỉ có một người thừa kế. Theo Điều 75 Luật Công chứng 2024, luật này hiệu lực từ 01/7/2025 và Luật Công chứng 2014 hết hiệu lực từ đó, trừ nội dung chuyển tiếp tại Điều 76.
Những điểm còn chưa rõ
Nghiên cứu chưa xác minh được Luật Công chứng 2024 có điều khoản riêng về văn bản khai nhận di sản ngoài Điều 59 và Điều 60 hay không, nên không khẳng định luật mới đã bỏ hẳn thủ tục khai nhận. Nghị định, thông tư hướng dẫn về biểu mẫu, hồ sơ chi tiết và thời hạn niêm yết chưa kiểm tra. Điều 630 Bộ luật Dân sự về điều kiện di chúc hợp pháp, cùng quy định về thời hiệu và người không được hưởng, chưa đọc được trên nguồn đã mở. Hồ sơ đăng ký sang tên sau công chứng cũng chưa xác minh, và tình trạng hiệu lực của Luật Công chứng 2024 trên Cơ sở dữ liệu quốc gia chưa kiểm tra được.
Khi nào nên tìm hỗ trợ thêm
Bạn nên tìm hỗ trợ khi gia đình bất đồng về người hưởng hoặc phần hưởng, di chúc không rõ ràng, giấy tờ quan hệ thiếu hoặc mâu thuẫn, hoặc di sản là đất có vướng mắc. Tổ chức hành nghề công chứng, cơ quan đăng ký đất đai hoặc luật sư có thể hướng dẫn theo hồ sơ cụ thể. Bài viết chỉ tóm tắt luận điểm đã đối chiếu, không bảo đảm kết quả cho từng trường hợp.
Thông tin trong bài viết này chỉ mang tính tham khảo để hiểu quy định pháp luật, được đối chiếu với văn bản chính thức tại thời điểm đăng và có ghi nguồn kèm theo. Đây không phải là ý kiến tư vấn pháp lý cho một trường hợp cụ thể. Với vụ việc riêng của mình, bạn nên đối chiếu văn bản gốc hoặc hỏi cơ quan có thẩm quyền.