Chế độ thai sản là quyền lợi nhiều người lao động quan tâm nhất trong bảo hiểm xã hội bắt buộc, nhưng không phải ai cũng rõ điều kiện đóng bao lâu, chồng được nghỉ mấy ngày khi vợ sinh, và tiền trợ cấp tính thế nào. Bài viết tóm tắt các quy định đã đối chiếu trong Luật Bảo hiểm xã hội 2024 và Bộ luật Lao động 2019, gồm cả hai nội dung đã được Điều 29 Luật Dân số 113/2025 sửa đổi từ ngày 01 tháng 07 năm 2026 về thời gian nghỉ khi sinh con thứ hai.

Trước tiên, hãy kiểm tra những gì
- Bạn đã đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc được bao nhiêu tháng trong 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận con nuôi.
- Trường hợp của bạn là sinh con, nhận nuôi con dưới 06 tháng tuổi, mang thai hộ hay điều trị hiếm muộn, vì điều kiện mỗi trường hợp khác nhau.
- Tiền lương đóng bảo hiểm xã hội bình quân của 06 tháng gần nhất, vì đây là căn cứ tính mức hưởng.
- Lao động nam có vợ sinh con cần biết ngày sinh để tính thời gian bắt đầu nghỉ trong vòng 60 ngày đầu.
Quy định đã được đối chiếu nói gì
Theo Điều 50 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, trường hợp sinh con, nhận con do mang thai hộ hoặc nhận nuôi con dưới 06 tháng tuổi phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 06 tháng trở lên trong 12 tháng trước thời điểm hưởng. Riêng người phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định y tế thì cần đóng từ đủ 03 tháng trong 12 tháng và đã đóng từ đủ 12 tháng trở lên; trường hợp điều trị hiếm muộn cần đóng đủ 06 tháng trong 24 tháng. Quyền lợi vẫn được giải quyết kể cả khi hợp đồng lao động đã chấm dứt trước thời điểm sinh.
Về thời gian nghỉ, Điều 139 Bộ luật Lao động 2019 và Điều 53 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 quy định lao động nữ được nghỉ thai sản 06 tháng, riêng trường hợp sinh con thứ hai được nghỉ 07 tháng theo khoản 1 Điều 139 đã được sửa đổi bởi Điều 29 Luật Dân số 113/2025, nghỉ trước sinh tối đa 02 tháng, sinh đôi trở lên thì từ con thứ hai mỗi con được nghỉ thêm 01 tháng; sau khi nghỉ ít nhất 04 tháng, người mẹ có thể đi làm sớm nếu đủ điều kiện sức khỏe và được người sử dụng lao động đồng ý. Lao động nam có vợ sinh thường được nghỉ 05 ngày làm việc; vợ sinh phẫu thuật hoặc sinh non dưới 32 tuần thì 07 ngày; sinh đôi hoặc vợ sinh con thứ hai được nghỉ 10 ngày theo điểm c khoản 2 Điều 53 đã được sửa đổi bởi Điều 29 Luật Dân số 113/2025, sinh đôi phẫu thuật 14 ngày, sinh ba trở lên thì từ con thứ ba cứ thêm một con cộng 03 ngày. Thời gian nghỉ của lao động nam phải bắt đầu trong 60 ngày đầu kể từ ngày sinh.
Trong thai kỳ, theo Điều 51, lao động nữ được nghỉ khám thai tối đa 05 lần, mỗi lần không quá 02 ngày. Nếu không may sảy thai, phá thai hoặc thai chết, Điều 52 quy định thời gian nghỉ tối đa từ 10 ngày đến 50 ngày tùy tuổi thai. Khi sinh con, Điều 58 cho người lao động được trợ cấp một lần bằng hai lần mức tham chiếu cho mỗi con. Theo Điều 59, trợ cấp thai sản hằng tháng bằng 100 phần trăm tiền lương đóng bảo hiểm xã hội bình quân của 06 tháng gần nhất. Sau thời gian thai sản, Điều 60 quy định chế độ dưỡng sức từ 05 ngày đến 10 ngày tùy tình trạng sức khỏe, mỗi ngày bằng 30 phần trăm mức tham chiếu, nếu sức khỏe chưa hồi phục trong 30 ngày đầu trở lại làm việc.
Khi nào nên tìm hỗ trợ thêm
Nếu hồ sơ bị cơ quan bảo hiểm xã hội trả lại hoặc thời gian đóng bị gián đoạn khó tính, bạn nên hỏi trực tiếp cơ quan bảo hiểm xã hội nơi công ty đóng bảo hiểm, hoặc nhờ bộ phận nhân sự đối chiếu quá trình đóng. Trường hợp công ty nợ đóng bảo hiểm xã hội làm ảnh hưởng quyền lợi, trung tâm trợ giúp pháp lý và công đoàn cấp trên có thể hỗ trợ hướng giải quyết.
Thông tin trong bài viết này chỉ mang tính tham khảo để hiểu quy định pháp luật, được đối chiếu với văn bản chính thức tại thời điểm đăng và có ghi nguồn kèm theo. Đây không phải là ý kiến tư vấn pháp lý cho một trường hợp cụ thể. Với vụ việc riêng của mình, bạn nên đối chiếu văn bản gốc hoặc hỏi cơ quan có thẩm quyền.